HOTLINE: 0982.095.095 - 0293.3878767 Thứ ba, ngày 15/12/2016
71,129,099 views

Sức sống cây tràm

02/11/2018 | 09:33 GMT+7

“Hậu Giang hôm nay, lúa đầy sân chật bến. Rừng tràm cũng vươn lên trên đất phèn nhiễm mặn, chung xây đời no ấm, tràm xanh cùng lúa vàng...”, câu hát trong ca khúc “Cây tràm cây lúa Hậu Giang” của nhạc sĩ Vĩnh Phúc đã phần nào nêu lên vị thế của loài cây này trong đời sống người dân hôm nay !

Năm 2004, khi mới chia tách tỉnh, độ che phủ rừng chỉ mới 1,12%, ước đến cuối năm 2018 dự kiến đạt 1,96%.

Niềm tin và giá trị

Có thể thấy sau nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng, nhất là trên những mảnh đất canh tác kém hiệu quả. Ngày nay, về những vùng đất viên lang bãi bồi, phèn, mặn ở huyện Long Mỹ, sức sống của cây tràm Úc đã vươn lên xanh tốt trên những mảnh đất mà các cây nông nghiệp khó thích nghi. Điều này cũng cho thấy những định hướng, quy hoạch phát triển cây lâm nghiệp đã bước đầu mang lại nhiều hiệu quả tích cực, hướng đến mục đích cuối cùng là đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân, giúp bà con tăng thu nhập, ổn định cuộc sống.

Gắn bó với cây tràm đã 40 năm, ông Trần Văn Quang, ở ấp 1, xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, khẳng định khoảng 10-15 năm trở lại đây trồng tràm mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho người dân ngoài vùng đê bao. Hai yếu tố mà ông tâm đắc nhất về loài cây này là lợi nhuận rất cao, chi phí nhẹ hơn nhiều so với các loại cây trồng khác đối với vùng phèn, mặn. Ông Quang kể lại: “Ngày xưa mới ra ở riêng, vợ chồng tôi nghèo lắm, chỉ có 2 công đất trồng tràm. Thu nhập có được từ loài cây này tôi tích lũy dần rồi mua thêm những khoảng đất xấu tiếp tục trồng tràm. Cứ như thế, đến nay tôi đã có được 4ha đất vừa để trồng tràm, vừa cho thuê và một căn nhà khang trang lúc tuổi già. Ngày nay, cây tràm cho giá trị kinh tế cao hơn khi trồng trên liếp, rút ngắn được thời gian thu hoạch. Nếu trồng 5 công tràm đến khi bán được giá thì cầm chắc 100 triệu đồng. Thị trường tiêu thụ tràm Úc hiện nay cũng khá rộng, người ta dùng làm bột giấy, chất đốt, cừ trong công trình xây dựng… Theo tôi thấy, chỉ có cây tràm là trồng đạt nhất ở vùng ven mặn này chứ cây lúa hay những loại ăn trái khác thì khó lắm”.

Những năm gần đây, cây tràm nói riêng, cây lâm nghiệp nói chung đã đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế đối với nhiều hộ dân. Theo Hạt Kiểm lâm huyện Phụng Hiệp, giai đoạn 2009-2018, diện tích rừng trồng phân tán trên đất nông nghiệp bình quân là 476ha/550 hộ/năm, trong đó diện tích rừng tràm chiếm 87%, còn lại keo và bạch đàn là 13%. Với diện tích trên, ước tính hàng năm người dân thu khoảng 17,8 tỉ đồng/119ha/120 hộ/năm và cây khác ước khoảng 2,3 tỉ đồng/7-8ha/7 hộ/năm. Riêng cây tràm, thu nhập bình quân khoảng 150 triệu đồng/ha.

Ngoài ra, ở xã Phương Phú, huyện Phụng Hiệp, có một khu vực sản xuất tràm giống lâu đời. Từ những hộ tự phát nghề làm tràm giống, ngày nay nhiều nông dân đã được tiếp cận tiến bộ kỹ thuật và thay đổi tập quán sản xuất hướng đến cung ứng cho thị trường những cây giống chất lượng. Hiện nơi đây có 40 hộ sản xuất tràm giống với diện tích trên 23ha, cung cấp cho thị trường nội tỉnh và các nơi trong khu vực.

Ông Trần Văn Suông, ở ấp Phương Thạnh, xã Phương Phú, phấn khởi cho biết: “1 công tràm lời khoảng 8-10 triệu đồng/năm. Vào vụ tràm giống từ tháng 6 đến tháng 11, là người dân xóm tôi lại tất bật xuất bán. Theo yêu cầu đơn đặt hàng, nhiều hộ cung cấp tràm giống sẽ thuê nhân công lao động tại địa phương để đi cấy tràm giống hoặc chỉ bán cây giống tại chỗ. Ngày xưa, trồng tràm rừng mất khoảng 6 năm mới thu hoạch, còn bây giờ cây tràm Úc khoảng 3 năm là bán. Trước kia tôi trồng lúa 1 công đạt 700-800kg, giá cả bấp bênh. Năm 2010, tôi mạnh dạn trồng tràm giống trên 2ha đất thuê, cộng thêm 2ha tràm cừ trồng trên đất nhà, vừa trồng vừa tích lũy kinh nghiệm. Loài cây lâm nghiệp này giúp gia đình có nguồn thu nhập khá và ổn định cuộc sống”.

Nếu trước đây cây lâm nghiệp chỉ dùng cho gỗ phụ trợ trong xây dựng, đóng cừ làm nhà và củi đốt thì ngày nay chúng sử dụng nhiều mục đích khác như: gỗ xẻ, bột giấy, bảo vệ bờ kênh chống sạt lở, trồng xen cây nông nghiệp để tạo bóng mát… góp phần nâng cao thu nhập và tạo cảnh quan môi trường. Đặc biệt là trong năm 2018 này, một số địa phương xây dựng mô hình kè sinh thái, vận dụng trồng cây tràm bên trên giúp giữ đất ven bờ, chống xói mòn…

Trụ vững qua bao thăng trầm

Ngoài trồng tràm, ngành chức năng đã xây dựng được nhiều mô hình kết hợp. Điển hình ở huyện Phụng Hiệp có mô hình trồng keo lá tràm trên bờ và bông súng tím dưới mương; mô hình keo lai trên đất phèn; trồng tràm xen cây ăn trái; trồng tràm trên liếp kết hợp nuôi cá… Còn ở huyện Long Mỹ và thị xã Long Mỹ, mô hình khuyến lâm đạt hiệu quả được người dân nhân rộng như: mô hình trồng tràm trên liếp; trồng tràm bông vàng, keo lai luân canh với cây khóm; mô hình nuôi ốc bươu đen dưới mương liếp tràm và mô hình nuôi cá đồng dưới mương liếp tràm. Các mô hình được thực hiện dưới sự hỗ trợ tích cực của hạt kiểm lâm địa bàn, giúp nông dân tận dụng tối đa diện tích để tăng thu nhập.

Theo ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, năm 2004, Hậu Giang có 2.001ha rừng. Đến năm 2007, diện tích rừng tăng lên 2.820ha. Năm 2009 tăng lên 2.910ha. Tuy nhiên đến năm 2010, do cây tràm mất giá nên người dân đốn bỏ tràm chuyển sang trồng lúa, mía, diện tích rừng khi đó chỉ còn lại 2.210ha (chủ yếu là giảm rừng trồng của người dân). Song song với việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch của ngành nông nghiệp, dự án Bảo vệ và phát triển rừng, cán bộ, công chức, viên chức kiểm lâm tập trung về cơ sở, kiên trì tuyên truyền, vận động người dân phát triển kinh tế lâm nghiệp. Khuyến khích trồng cây lâm nghiệp trên đất viên lang bãi bồi, đất vườn tạp và trên diện tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả; trồng cây lâm nghiệp phân tán… Phát triển, nhân rộng các mô hình khuyến lâm, mô hình nuôi động vật hoang dã đạt hiệu quả kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế.

Với những nỗ lực trên, kết quả là diện tích rừng toàn tỉnh tăng lên từng năm. Cụ thể, năm 2014 đạt 2.544ha; năm 2016 đạt 2.826ha; năm 2017 đạt 2.941ha và dự kiến đến cuối năm 2018 này diện tích rừng ước đạt 3.000ha. Đồng thời, số lượng cây trồng phân tán cũng tăng lên đáng kể, năm 2005 khoảng 3,1 triệu cây, đến năm 2017 là 8,3 triệu cây lâm nghiệp các loại. Song song đó, độ che phủ rừng hàng năm cũng đã tăng lên đáng kể. Theo dự báo của ngành kiểm lâm tỉnh, giai đoạn 2018-2020, tình hình thời tiết có nhiều biến động phức tạp do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Năm 2019, Luật Lâm nghiệp bắt đầu có hiệu lực thi hành, sẽ có nhiều thay đổi về chuỗi giá trị lâm sản từ giai đoạn trồng rừng đến lưu thông sản phẩm lâm sản, cùng với xu hướng người dân chuyển sang trồng cây lâm nghiệp với diện tích đất viên lang bãi bồi, đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả. Điều này đặt ra nhiệm vụ khá lớn cho ngành kiểm lâm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, tích cực góp phần vào tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp trong thời gian tới. Trong giai đoạn từ đây đến cuối nhiệm kỳ, ngành kiểm lâm nỗ lực tăng thêm diện tích rừng trồng, khai thác các vùng đất hoang, đất lung, viên lang bãi bồi. Tiếp tục rút ngắn chu kỳ kinh doanh bằng cách tác động các biện pháp lâm sinh, hỗ trợ kỹ thuật, lập sổ theo dõi…, cố gắng từ năm 2021 trở đi, người dân trồng tràm trên ruộng chỉ 5 năm là khai thác, trồng trên liếp chỉ 3-3,5 năm khai thác. Với các mô hình đã thực hiện, tiếp tục theo dõi tác động về kỹ thuật để ngày càng mang lại hiệu quả cao. Song song đó, thực hiện các dự án lâm nghiệp, tăng độ che phủ của rừng và cây phân tán…

Theo Chi cục Kiểm lâm Hậu Giang, năm 2004 khi mới thành lập tỉnh thì độ che phủ rừng chỉ 1,12%, năm 2017 là 1,89% và ước đến cuối năm 2018 dự kiến đạt 1,96%. Căn cứ vào tình hình chuyển đổi trồng cây lâm nghiệp của các tổ chức, cá nhân và theo dõi diễn biến rừng đến năm 2020, diện tích rừng tỉnh Hậu Giang ước sẽ đạt 3.100ha, độ che phủ đạt 2,2% (trong đó rừng là 1,6%; cây phân tán 0,6%).

 

Bài, ảnh: NGUYỄN HẰNG

Bài, ảnh: NGUYỄN HẰNG

Write new comment