HOTLINE: 0982.095.095 - 0293.3878767 Thứ ba, ngày 15/12/2016

Tìm giải pháp phát triển chuỗi giá trị lúa gạo

28/09/2017 | 05:11 GMT+7

Với chủ đề “Thúc đẩy liên kết, phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao theo hướng bền vững”, buổi hội thảo do UBND tỉnh Hậu Giang tổ chức vào sáng ngày 27-9 đã ghi nhận nhiều ý kiến đề xuất về các giải pháp từ nhà khoa học, quản lý và doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, giúp nông dân và doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ hơn trong thời gian tới.

Lai tạo và nhân giống lúa chất lượng, thích nghi từng vùng đất được Hậu Giang thực hiện nhằm phát triển chuỗi giá trị lúa gạo.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích tự nhiên hơn 3,9 triệu héc-ta. Đây là vùng đồng bằng rộng lớn có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, phù hợp với phát triển sản xuất nông nghiệp. Nhằm tạo đột phá trong sản xuất lúa, thời gian qua, các địa phương trong vùng ĐBSCL đã có nhiều giải pháp giúp nông dân. Điển hình tại Hậu Giang, lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết những khó khăn trong khâu làm đất, chăm sóc, bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm áp lực thiếu hụt lao động, rút ngắn thời vụ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản xuất. Bên cạnh đó, tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, xây dựng mô hình cánh đồng lớn, đặc biệt là công tác sử dụng giống lúa luôn đảm bảo đạt tỷ lệ cao…

Thực trạng liên kết chuỗi giá trị lúa gạo

 Hàng năm, vùng ĐBSCL sản xuất 55% sản lượng lương thực, cung cấp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Mặc dù lúa gạo trở thành ngành hàng có ưu thế rất lớn của vùng, nhưng tình hình sản xuất của nông dân trồng lúa trong thời gian qua còn gặp nhiều trở ngại. Đặc biệt là liên kết, phát triển theo chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng còn nhiều bế tắc, cho dù nhiều địa phương trong vùng ĐBSCL đã quan tâm phát triển vùng lúa chất lượng cao. Tiến sĩ Đoàn Mạnh Tường, Viện lúa ĐBSCL, cho biết: “Liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL vẫn là một mối liên kết yếu, đặc biệt chưa thể hiện được nhiều trong mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa nông dân và doanh nghiệp”.

Dẫn chứng cho phát biểu trên, tiến sĩ Tường chỉ ra rằng, cánh đồng mẫu lớn đang bước sang giai đoạn thứ hai dựa trên quy mô liên kết để trở thành cánh đồng lớn và định hình vùng nguyên liệu sản xuất ổn định nhiều năm tiến tới giai đoạn thứ ba là xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Tuy nhiên, so với diện tích canh tác lúa của ĐBSCL thì diện tích triển khai cánh đồng lớn vẫn còn quá nhỏ, hiện chỉ chiếm khoảng 6,35% trên tổng diện tích khoảng 1.644.964ha lúa tính đến vụ Hè thu năm 2017. Số liệu trên cho thấy thực trạng liên kết sản xuất lúa giữa nông dân với nông dân là còn rất khiêm tốn, chưa phát huy được hết vai trò của liên kết sản xuất nâng cao giá trị hàng hóa của sản phẩm lúa gạo làm ra. Thực trạng liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp cũng nằm trong tình trạng chung như liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân trong xây dựng cánh đồng lớn. Hiện nay, dù đã có doanh nghiệp tham gia vào chuỗi liên kết, nhưng sự tham gia sâu trong liên kết của các công ty là chưa nhiều.

Ngoài ý kiến trên, ông Lê Văn Đời, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang, cho rằng: Nông dân Hậu Giang và các tỉnh vùng ĐBSCL còn chịu tác động xấu của biến đổi khí hậu, rõ nhất là có những cơn mưa trái mùa, hạn hán, xâm nhập mặn và sâu bệnh ngày càng diễn biến bất thường; các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm không ổn định, giá cả bấp bênh… Đây cũng là những nguyên nhân khiến cho quá trình tiêu thụ lúa gạo theo chuỗi liên kết trong thời gian qua mang lại hiệu quả không như mong muốn.

Đại diện cho các doanh nghiệp nói về sự khó khăn trong thực hiện liên kết chuỗi giá trị lúa gạo tại hội thảo, ông Phan Công Bình, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Công Bình, ở tỉnh Long An nhưng đang có dự án đầu tư tại Hậu Giang, chia sẻ: “Sau thời gian hợp tác cùng nông dân, tôi thấy tư duy của bà con về tính nghiêm túc thực hiện hợp đồng chưa tốt. Khi giá lúa trên thị trường cao thì thường phá vỡ hợp đồng và khi xảy ra khó khăn giữa hai bên thì không có ai đứng ra giải quyết, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến các hợp đồng tiêu thụ gạo của công ty với đối tác. Về hợp tác xã (HTX), hiện năng lực quản trị và vai trò lãnh đạo chưa được hoàn thiện trong khi HTX là đơn vị có yếu tố quan trọng quyết định đến thành công trong chuỗi liên kết.

Giải pháp tháo gỡ

Từ thực trạng trên, tại hội thảo, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, ngành chức năng đã đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết, phát triển chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao theo hướng bền vững cho tỉnh Hậu Giang nói riêng và các tỉnh vùng ĐBSCL nói chung.

Theo đó, một trong những giải pháp đầu tiên được các đại biểu đề ra là quan tâm xây dựng về năng lực hoạt động của HTX, nhưng phải là HTX kiểu mới. Bởi chỉ có HTX nông nghiệp trồng lúa kiểu mới mới giúp bảo đảm được quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, áp dụng được khoa học công nghệ vào sản xuất, giúp bảo đảm tiêu thụ và phát triển bền vững. Đặc biệt, tại mỗi HTX cần có sự tham gia của chính quyền địa phương để nêu cao vai trò của HTX và tạo sự đồng thuận cao từ các thành viên. “Nếu giải quyết được bài toán này sẽ góp phần tháo gỡ được điều kiện hiện tại là đa phần các HTX trồng lúa ở Hậu Giang, cũng như một số tỉnh vùng ĐBSCL đều có quy mô nhỏ và tổ chức, quản lý, vận hành còn nhiều hạn chế”, PGS.TS Nguyễn Duy Cần, Khoa phát triển nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ, nhận định.

Cùng với việc quan tâm HTX, theo Viện lúa ĐBSCL, nhằm kích thích “ngòi nổ” trong liên kết phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao theo hướng bền vững thì tỉnh Hậu Giang và các tỉnh vùng ĐBSCL cần làm tốt 3 giải pháp trước mắt. Đó là, tổ chức sắp xếp lại ngành hàng lúa gạo, công tác thu mua và thị trường tiêu thụ. Trong đó, chú ý việc mời gọi, quản lý các doanh nghiệp có hệ thống thu mua, bao tiêu lúa gạo hàng hóa cho người sản xuất với giá cả đảm bảo phân chia lợi ích hợp lý giữa nhà nông và doanh nghiệp. Xây dựng quy chế, quy định cho hệ thống thu mua tránh tình trạng tranh mua tranh bán, phá vỡ hợp đồng gây thiệt hại cho đôi bên. Đồng thời, ưu tiên tạo điều kiện cho doanh nghiệp có hướng phát triển hệ thống bảo quản và chế biến với các thiết bị công nghệ hiện đại, quy trình kỹ thuật tiên tiến đảm bảo sản phẩm gạo có chất lượng cao, giá thành thấp.

Ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng, cái chính của vấn đề là các ngành chức năng cần có giải pháp thay đổi ý thức của người dân trong việc thực hiện hợp đồng với doanh nghiệp, tránh tình trạng phá vỡ hợp đồng. Bên cạnh đó, cần rà soát, quy hoạch lại các sản phẩm chủ lực, trong đó có lúa gạo theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, dựa trên lợi thế cạnh tranh, tránh dàn trải để tập trung đầu tư chiều sâu.

Ngoài các giải pháp mà nhà khoa học, ngành chức năng đề xuất, hiện ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang đã và đang xây dựng các mô hình canh tác bền vững, đạt hiệu quả cao để có thể nâng cao chất lượng và giá trị lúa gạo bằng các mô hình như: Xây dựng cánh đồng lớn, mô hình VietGAP, mô hình IPM trên cây lúa, sản xuất lúa hữu cơ, các nghiên cứu đồng ruộng, lai tạo và nhân giống lúa chất lượng thích nghi từng vùng đất, tạo điều kiện tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị lúa gạo, hình thành tổ chức kinh tế hợp tác đại diện cho nhiều nông dân thực hiện hợp đồng kinh tế có tính pháp lý và bền vững. Ông Lê Văn Đời, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang, đề xuất: Ngoài các giải pháp tỉnh đưa ra, tới đây, địa phương mong Bộ NN&PTNT có định hướng về thị trường xuất khẩu lúa gạo hàng năm, nhất là về cơ cấu giống lúa để các địa phương có hướng chỉ đạo sản xuất đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp xuất khẩu.       

Cùng với ngành nông nghiệp tỉnh, nhiều doanh nghiệp tham gia buổi hội thảo cũng kiến nghị các ngành chức năng có liên quan cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng được thuận lợi hơn để doanh nghiệp có điều kiện đầu tư cho nông dân sản xuất, cũng như mở rộng diện tích sản xuất lúa tham gia vào chuỗi liên kết. Vì mục đích cuối cùng là thực hiện chuỗi liên kết phải tăng giá trị sản xuất lúa gạo cho nông dân nhiều hơn so với hộ bên ngoài, từ đó mới thu hút được bà con tham gia một cách ổn định...

H.PHƯỚC - H.THU

Viết bình luận mới