Vựa lúa cần chắt chiu “vàng trắng” !

16/06/2017 | 05:44 GMT+7

Tháng 6-2017, lượng mưa nhiều đã làm nhiều vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hạ nhiệt. Những dự báo đầu tiên từ Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương cho thấy, mùa lũ năm nay có thể cao hơn chút ít so với vài năm gần đây. Đây như một tia hy vọng nhỏ để vựa lúa tăng cường tích nước. Đã đến lúc xem nguồn nước từ sông Mekong đổ về quý như “vàng trắng” để điều tiết đối phó với mùa hạn, mặn thường xảy ra.

Hệ thống cống ngăn mặn của tỉnh Hậu Giang đã phát huy hiệu quả trong mùa khô.

Chủ động tích trữ nước

Nhìn lại mùa khô năm 2017, theo Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương, tổng lượng dòng chảy sông Mekong về khu vực ĐBSCL ở mức cao hơn so với trung bình nhiều năm (TBNN) từ 35-80% và cao hơn mùa khô năm 2015-2016 từ 25-60%. Mực nước tại đầu nguồn sông Cửu Long luôn ở mức cao hơn TBNN, hiện tại mực nước tại Tân Châu, Châu Đốc ở mức 1,4-1,5m, cao hơn TBNN từ 0,45-0,55m. Dự báo, mùa lũ 2017 ở thượng nguồn sông Mekong khả năng đến sớm hơn (lũ sớm) so với TBNN. Đến cuối tháng 7-2017, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long tại Tân Châu, Châu Đốc có khả năng ở mức 2,5-3m, nguy cơ xảy ra ngập lụt ở huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng (Long An) và một số vùng ven sông, ngoài đê bao các tỉnh An Giang, Đồng Tháp. Đây được xem là cơ hội để ĐBSCL tích nước trong bối cảnh nguồn nước sông Mekong ngày càng biến động do các nước thượng nguồn khai thác quá mức từ các đập thủy điện, chuyển nước phục vụ tưới tiêu…

Câu chuyện nguồn nước từ sông Mekong đột ngột giảm lưu lượng về hạ nguồn đã gây ra liên tiếp khô hạn ở ĐBSCL, tác động đến sinh kế của hàng triệu người dân trong vùng. Từ người nông dân đến các nhà khoa học đều lo lắng về sự phát triển của vựa lúa miền Tây. Vùng hạ lưu ĐBSCL không chỉ đối diện với nhiều rủi ro từ các đập thủy điện, mà việc các nước đầu nguồn chuyển bơm nước trên dòng chính sông Mekong cũng tạo ra nhiều thách thức cho sản xuất ở hạ lưu. Theo chuyên gia quản lý lưu vực sông Nguyễn Nhân Quảng: Hiện Thái Lan đã dự định có thêm 990 dự án ở vùng Đông Bắc chủ yếu là chuyển/bơm nước từ sông Mekong. Tại Campuchia, chiến lược trồng lúa xuất khẩu nước này đang cơi nới. Tuy nhiên, do việc tưới vẫn chủ yếu là nhờ trời, Campuchia đang đầu tư và hợp tác với nước ngoài xây dựng các hệ thống đầu mối và kênh mương, đa số thuộc lưu vực Mekong và đa số đầu tư đến từ Trung Quốc. Diện tích tưới hiện tại là 504.245ha, đến năm 2030 sẽ mở rộng thêm 772.499ha. Tại Lào, diện tích tưới chủ yếu là các dải đất hẹp nằm dọc các dòng nhánh và các cánh đồng ngập lũ cạnh dòng chính Mekong. Diện tích đất tưới là 166.476ha, song theo kịch bản phát triển đến năm 2030 sẽ mở rộng thêm 213.062ha và dự kiến các dự án tưới mới cho 238.617ha.

Khi các nước thượng nguồn mở rộng tận thu nguồn nước sẽ tạo ra thách thức rất lớn cho ĐBSCL. Nước ngọt đang thực sự là một tài nguyên quý giá như “vàng trắng” để ĐBSCL phục vụ cho sinh hoạt con người, sản xuất lương thực, tự nhiên, nước cho công nghiệp và sử dụng khác… Chính vì vậy, mà ĐBSCL cần chủ động tận dụng tích trữ nguồn nước để điều tiết hợp lý trong mùa khô.

Xem nguồn nước là “hàng hóa” để kêu gọi đầu tư

Sau nhiều năm đối phó với lũ tràn đồng, câu chuyện thời sự của ĐBSCL lái sang hướng tích nước mùa mưa lũ để điều tiết lại trong mùa khô. Các chuyên gia nhận định: Hiện tại, việc mở rộng diện tích tưới ở ĐBSCL hạn chế do quỹ đất và các yếu tố khác (xâm nhập mặn, đất phèn...). Có thể nói sự phát triển của sản xuất nông nghiệp ĐBSCL luôn gắn liền với các chính sách đầu tư từ thủy lợi. Năm 1976, sản lượng lúa ở ĐBSCL chỉ khoảng 4 triệu tấn (chủ yếu là 1 vụ lúa mùa); từ năm 2005-2014 luôn đạt trên 17 triệu tấn; trong 2 năm gần đây (2015-2016) đạt trên 25 triệu tấn, chiếm khoảng 60%. Riêng thủy sản, sản lượng chiếm 65%, trái cây chiếm 70% của cả nước…

Có thể tóm lược sự phát triển của thủy lợi ĐBSCL có 3 giai đoạn. Giai đoạn 1976-1986, nghiên cứu thăm dò tìm giải pháp gắn với quan điểm: Thủy lợi là biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp trong điều kiện khó khăn do ngập lũ kéo dài và chua mặn trong mùa khô; diện tích đất hoang hóa còn lớn; cung cấp nguồn nước ngọt, cải thiện tiêu nước, hạn chế ngập lụt và tiêu chua. Giai đoạn 1986-1996, mở rộng diện tích nông nghiệp (chủ yếu là lúa); mục tiêu tập trung sản xuất lương thực bằng các giải pháp thủy lợi; mở rộng diện tích khai hoang Đồng Tháp Mười - Tứ giác Long Xuyên, phá thế lúa nổi thành vùng sản xuất 2 vụ ổn định; tăng diện tích gieo sạ Đông xuân - Hè thu ở vùng giữa; đầu tư ổn định vụ mùa - vùng ven biển rửa mặn, xổ phèn (ngọt hóa Gò Công). Giai đoạn 1996-2016, đa dạng hóa nông nghiệp, “Sống chung với lũ” và ngọt hóa bán đảo Cà Mau; trong đó nổi bật là tập trung chống lũ, cải tạo cơ sở hạ tầng và đời sống dân cư vùng lũ Đồng Tháp Mười - Tứ giác Long Xuyên chương trình cụm tuyến dân cư. Thời kỳ này công tác thủy lợi phải phục vụ nhiều mục tiêu hơn, như mở rộng thủy lợi phục vụ sản xuất thủy sản ở các tỉnh ven biển. Từ năm 2016, khâu thủy lợi trong vùng đang mở rộng theo xu hướng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Và giờ thêm một “gọng kẹp” từ nguy cơ thiếu nước ngọt từ sông Mekong. Điểm yếu của thủy lợi nội đồng trong vùng là: thiếu các hệ thống hỗ trợ như trạm bơm, kênh dẫn chưa được khép kín nên còn bị động trong ứng phó. Các hệ thống thủy lợi chưa được hoàn thiện thì thiệt hại lớn. Trước tình thế đó, các nhà khoa học nhấn mạnh đến việc xem xét giải pháp trữ nước chủ động, tiết kiệm nước. Ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang, cho biết: “Chúng tôi đang tận dụng triệt để các nhánh sông chính để trữ nước. Khi hạn, mặn đến nguồn nước trữ này sẽ cung cấp chính cho nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp”.

Các nhà khoa học cho rằng, ĐBSCL không nên chủ quan. Bởi tác động của thủy điện vẫn có khả năng làm tăng lũ chồng lũ: lũ lớn cường suất cao. Cần kiện toàn chiến lược “Chung sống với lũ một cách chủ động”. Đồng thời, đẩy nhanh: Đầu tư khép kín đồng bộ, hệ thống lớn đảm bảo điều tiết. “Chung sống với mặn” một cách bền vững: Coi nguồn mặn là tài nguyên, chuyển đổi canh tác phù hợp với các điều kiện của từng vùng, trong đó có đầu tư căn cơ cho sinh kế người dân sống vùng mặn. Đã đến lúc xem nước là nguồn “hàng hóa” để đầu tư và quản lý chuyên nghiệp. Trong đó, cần nghiên cứu huy động cả nguồn lực tư nhân đầu tư vào thủy lợi, từng bước hiện đại hóa công tác vận hành và quản lý các hệ thống khai thác nguồn nước gắn với hiện đại hóa hệ thống thủy lợi lớn.

Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, hiện trạng thủy lợi ĐBSCL gồm: 984 cống trung bình -lớn (khẩu độ từ 3-100m), cống nhỏ và bọng: 20.517 cái (khẩu độ dưới 3m), 133 kênh trục, chiều dài 3.190km; 1.015 kênh cấp I, chiều dài 10.961km; 7.656 kênh cấp II, chiều dài 26.894km; 36.853 kênh cấp III/nội đồng, chiều dài 50.019km; đê biển: 523/617km; đê sông: 281/742km; bờ bao cấp I là 890/1.301km, bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ 23.687km.

 

Bài, ảnh: VĨNH TƯỜNG

Viết bình luận mới