Vì sao không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

12/10/2017 | 09:38 GMT+7

Ông Bùi Thanh Thu, ở ấp Bình Hòa, xã Phương Phú, huyện Phụng Hiệp, cho rằng, nguồn gốc đất do gia đình khai phá từ năm 1987 nhưng đã nhiều năm yêu cầu UBND xin được cấp giấy CNQSDĐ diện tích 13.000m2, vị trí đất giáp ranh với Lung Ngọc Hoàng mà không được chấp nhận.

Ông Thu chỉ phần đất ông yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất cho ông.

Ông Thu nói, ông khiếu nại phần đất có nguồn gốc, UBND xã Tân Phước Hưng (nay là xã Phương Phú), huyện Phụng Hiệp cấp cho vợ con ông; do ông đi nghĩa vụ, vợ con ông ở nhà không có đất canh tác, sau đó gia đình ông khai phá, sử dụng từ năm 1987 đến năm 1991 với diện tích 13.000m2, vị trí nằm giáp ranh đất thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng.

Quá trình sử dụng, gia đình ông Thu trồng lúa, đến năm 1992 lên liếp trồng mía. Ông Bùi Thanh Thu cho biết: “Năm 1995, tôi đến UBND xã Phương Phú yêu cầu làm thủ tục để được công nhận và xin cấp giấy CNQSDĐ cho tôi diện tích trên thì không được xem xét; năm 1999 tôi tiếp tục yêu cầu cũng không được giải quyết và kéo dài đến nay”.              

Qua tìm hiểu được biết, nguồn gốc đất này là lung hoang do Nhà nước quản lý; ngày 1-10-1990, ông Bùi Thanh Quang (cha ông Thu) làm đơn xin khai phá phần đất 10 công tại khu vực đất Lung Ngọc Hoàng. Tuy nhiên, gia đình ông Quang chỉ khai phá và sử dụng những nơi gò cao để trồng lúa mùa được một thời gian, do năng suất thấp nên ông Quang bỏ đất không tiếp tục canh tác.

Ngày 24-11-2009, ông Thu và UBND xã Phương Phú ký hợp đồng khai phá và canh tác đất công diện tích 27.225m2 (trong đó có 13.000m2 đất ông Thu yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất). Ngày 1-1-2012, ông Thu và UBND xã Phương Phú ký hợp đồng thuê quỹ đất nông nghiệp do xã quản lý diện tích trên 33.000m2 (trong đó có phần 13.000m2 hiện nay ông Thu yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất), hợp đồng này thay thế hợp đồng ngày 24-11-2009. Hiện nay, phần đất ông Thu thuê của UBND xã (có cả phần ông yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất), ông đã cho người khác thuê lại để trồng cam.

Ông Bùi Thanh Thu nói thêm: “Năm 2009, tôi tiếp tục đến UBND xã Phương Phú yêu cầu được cấp giấy CNQSDĐ thì Chủ tịch UBND xã cho tôi thuê phần đất Lung Ngọc Hoàng diện tích 20.000m2, cặp ranh với phần đất tôi xin cấp giấy. Việc ký hợp đồng thuê đất với UBND xã có phần đất của tôi khai phá là do tôi bị UBND ép buộc ký. Trong diện tích 13.000m2 đất tôi yêu cầu công nhận có xây dựng nhà lá và được Nhà nước cấp sổ hộ khẩu tại căn nhà này. Từ trước đến nay tôi không có đóng tiền thuê diện tích 13.000m2 đất theo hợp đồng thuê đã ký với UBND xã Phương Phú”.

Theo xác nhận của UBND xã Phương Phú: Từ thời điểm ông Thu ký hợp đồng thuê đất với UBND xã Phương Phú (năm 2009), ông Thu được miễn thuế trong 5 năm đầu. Đến năm 2014, năm 2015, ông Thu đóng tiền thuê đất hàng năm (có diện tích 13.000m2 đất ông đang khiếu nại), năm 2016, ông Thu không đóng thuế.

Ông Thu cho rằng, nói ông có xây dựng căn nhà trên phần diện tích đất ông đang khiếu nại và được cấp sổ hộ khẩu tại căn nhà này là không đúng, vì từ trước đến nay ông chỉ có một căn nhà xây dựng trên phần đất của gia đình (ở cùng ấp Bình Hòa) và sổ hộ khẩu tại căn nhà này.

Ngày 19-5-2017, Chủ tịch UBND tỉnh có Công văn số 791 trả lời đơn của ông Thu, nội dung: Không đủ điều kiện để được công nhận QSDĐ và không đủ điều kiện để cấp giấy CNQSDĐ, ông Thu không đồng ý với công văn trả lời của UBND tỉnh.

Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường khẳng định: Sổ mục kê và bản đồ địa chính được Sở Địa chính tỉnh Cần Thơ ký duyệt ngày 7-6-2001, phần đất ông Thu yêu cầu thuộc thửa số 187 diện tích 29.980m2, loại đất hoang (đất chưa sử dụng), tên chủ sử dụng là Lung Ngọc Hoàng. Tại biên bản đo đạc cắm mốc quản lý đất công lập ngày 10-7-1998 có xác nhận của UBND xã Phương Phú thể hiện, khi đo đạc quản lý đất công có các hộ dân sử dụng đất giáp ranh ký tên biên bản, trong phần diện tích quản lý đã bao gồm 13.000m2 ông Thu yêu cầu. Biên bản trao đổi ký kết hợp đồng ngày 7-12-2010 và biên bản ngày 29-7-2011 giữa UBND xã Phương Phú với ông Thu thì ông Thu thừa nhận diện tích đất thuê (trong đó có 13.000m2 hiện nay ông đang khiếu nại) là đất lung hoang do UBND xã quản lý cho gia đình ông thuê khai phá sử dụng nhưng ông Thu yêu cầu được thuê là 15 năm.

Mặt khác, ông Thu không cung cấp được giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định, không chứng minh được quá trình sử dụng liên tục, ổn định từ năm 2009 trở về trước. Căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai và Nghị định số 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất diện tích 13.000m2 của ông Thu là không đủ điều kiện để xem xét giải quyết.

Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 1-7-2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

 

Bài, ảnh: PHI YẾN

Viết bình luận mới